Trong mạng, thiết bị nào cũng phải có địa chỉ riêng cho mỗi kết nối. Nhờ địa chỉ này, các gói tin trao đổi giữa hệ thống máy tính (máy chủ, máy khách) mới được nhận biết để chuyển đi, cũng như anh bưu tá phải biết số nhà để gửi thư.
IP là chữ viết tắt của Internet Protocol (giao thức Internet). Mỗi gói tin IP sẽ bao gồm một địa chỉ IP nguồn và một địa chỉ IP đích. Tất nhiên, hệ thống "số nhà" trên Internet phức tạp và thú vị hơn nhiều so với nhà cửa trong thực tế.
IP tĩnh và động
Mỗi thiết bị trong một mạng IP được chỉ định bằng một địa chỉ vĩnh viễn (IP tĩnh) bởi nhà quản trị mạng hoặc một địa chỉ tạm thời, có thể thay đổi (IP động) thông qua công cụ DHCP (giao thức cấu hình host động sẽ tự động xác định địa chỉ IP tạm thời) ngay trên Windows Server.
Các router (bộ định tuyến), firewall (tường lửa) và máy chủ proxy dùng địa chỉ IP tĩnh còn máy khách có thể dùng IP tĩnh hoặc động.
Thường thì các nhà cung cấp Internet DSL hay cáp sẽ chỉ định loại IP động cho bạn. Trong các router và hệ điều hành, cấu hình mặc định cho các máy khách cũng là IP động. Loại địa chỉ này hay được dùng cho máy tính xách tay kết nối Wi-Fi, PC truy cập bằng Dial-up hay mạng riêng.
Phân phối địa chỉ IP
Trên thế giới có hàng chục triệu máy chủ và hàng trăm nghìn mạng khác nhau. Do đó, để quản lý sao cho địa chỉ IP không trùng nhau, một tổ chức mang tên Network Information Center (NIC) ra đời với nhiệm vụ phân phối Net ID (địa chỉ mạng) cho các quốc gia. Ở mỗi nước lại có một trung tâm quản lý Internet làm công việc phân phối Host ID (địa chỉ máy chủ). Tại Việt Nam, nếu muốn thiết lập một hệ thống máy chủ, khách hàng có thể tới VNNIC để đăng ký IP tĩnh với mức phí từ 1 đến 285 triệu đồng, tùy theo quy mô sử dụng. (Xem chi tiết tại đây)
Cấu trúc và phân lớp địa chỉ IP
Các địa chỉ này được viết dưới dạng một tập hợp bộ số (octet) ngăn cách nhau bằng dấu chấm (.). Nếu biết địa chỉ IP của một website, bạn có thể nhập vào trình duyệt để mở mà không cần viết tên miền. Hiện nay có 2 phiên bản là IPv4 và IPv6, trong đó IPv4 là chuẩn đang dùng rộng rãi với độ dài 32 bit. Nhưng trong tương lai, khi quy mô của mạng mở rộng, người ta có thể phải dùng đến IPv6 là chuẩn 128 bit.
Xét trong phiên bản IPv4, địa chỉ 32 bit này được chia làm 4 bộ, mỗi bộ 8 bit (viết theo dạng nhị phân gồm các số 0 và 1) được đếm thứ tự từ trái sang phải. Bạn đọc có thể dùng trang web này để chuyển đổi giữa hai hệ đếm.
Nếu viết theo dạng thập phân (thường dùng để dễ nhận biết), địa chỉ IP có công thức là xxx.xxx.xxx.xxx, trong đó x là số thập phân từ 0 đến 9. Tuy vậy, khi 0 đứng đầu mỗi bộ số, bạn có thể bỏ đi, ví dụ 123.043.010.002 được viết thành 123.43.10.2.
Cấu trúc trên thể hiện 3 thành phần chính là
Class bit Net ID Host ID
Phần 1 là bit nhận dạng lớp, dùng để xác định địa chỉ đang ở lớp nào.
Địa chỉ IP được phân thành 5 lớp A, B, C, D, E, trong đó lớp D, E chưa dùng tới. Ta xét 3 lớp đầu với hệ đếm nhị phân.
Lớp A:
Như vậy, bit nhận dạng thứ nhất của lớp A bằng 0, 7 bit còn lại dành cho địa chỉ mạng Net ID, phần tiếp theo dành cho địa chỉ máy chủ Host ID. Vùng số của mạng được gọi là tiền tố mạng (network prefix). Lớp A áp dụng khi địa chỉ network ít và địa chỉ máy chủ nhiều. Tính ra, ta được tối đa 126 mạng và mỗi mạng có thể hỗ trợ tối đa 167.777.214 máy chủ. Vùng địa chỉ lý thuyết tính theo hệ đếm thập phân từ 0.0.0.0 đến 127.0.0.0 (thực tế ta không dùng các địa chỉ đều có giá trị bit bằng 0 hay 1).
Lớp B:
Bit nhận dạng của lớp B là 10, 14 bit còn lại dành cho Net ID. Lớp này áp dụng khi địa chỉ mạng và địa chỉ máy chủ ở mức vừa. Tính ra, ta được tối đa 16.382 mạng, mỗi mạng phục vụ tối đa 65.534 máy chủ. Vùng địa chỉ lý thuyết từ 128.0.0.0 đến 191.255.0.0.
Lớp C:
Bit nhận dạng của lớp C là 110, 21 bit còn lại dành cho Net ID. Lớp này áp dụng khi địa chỉ mạng nhiều và địa chỉ máy chủ ít. Tính ra, ta được tối đa 2.097.150 mạng, mỗi mạng phục vụ tối đa 254 máy chủ. Vùng địa chỉ lý thuyết từ 192.0.0.0 đến 223.255.255.0.
Địa chỉ IP cho mạng riêng
Trên thực tế, khi phạm vi hoạt động mạng mở rộng, nếu công ty phải đi xin thêm địa chỉ thì sẽ tốn kém. Hơn nữa, có khi một mạng nhỏ chỉ gồm vài chục máy chủ và điều này gây lãng phí rất nhiều địa chỉ còn lại. Do đó, người ta nghĩ đến mạng riêng (private network) để tận dụng nguồn tài nguyên. Các thiết bị trong một mạng nội bộ sẽ dùng địa chỉ IP riêng mà không kết nối trực tiếp với Internet.
Các mạng riêng này trở nên phổ biến với thiết kế LAN vì nhiều tổ chức thấy rằng họ không cần địa chỉ IP cố định trên toàn cầu cho mỗi máy tính, máy in, máy fax... Các router trên Internet thường được định cấu hình để từ chối kết nối dùng địa chỉ IP riêng. Chính sự "cách ly" này đã khiến mạng riêng trở thành hình thức bảo mật cơ bản vì người ngoài không kết nối trực tiếp được với máy trong network đó. Cũng vậy, do các mạng riêng này không thể kết nối trực tiếp với nhau nên chúng có thể dùng một vùng địa chỉ IP con giống nhau mà không gây xung đột gì.
Cách phân chia địa chỉ mạng con như sau:
Về bản chất, ta sẽ tận dùng các bộ số không dùng đến của địa chỉ máy chủ để mở rộng quy mô cho mạng. Subnet Mask (giá trị trần của từng mạng con) cho phép bạn chuyển đổi một mạng lớp A, B hay C thành nhiều mạng nhỏ, tùy theo nhu cầu sử dụng. Với mỗi giá trị trần này, bạn có thể tạo ra một tiền tố mạng mở rộng để thêm bit từ số máy chủ vào tiền tố mạng. Việc phân chia này sẽ dễ hiểu hơn khi bạn dùng hệ đếm nhị phân.
- Các bit được đánh số 1 nếu bit tương ứng trong địa chỉ IP là một phần của tiền tố mạng mở rộng.
- Các bit được đánh số 0 nếu bit là một phần của số máy chủ.
Ví dụ tiền tố mạng lớp B luôn bao gồm 2 bộ số đầu của địa chỉ IP, nhưng tiền tố mạng mở rộng của lớp B lại dùng cả bộ số thứ 3.
Ví dụ 1: Nếu có địa chỉ IP lớp B là 129.10.0.0 và bạn muốn dùng cả bộ số thứ 3 làm một phần của tiền tố mạng mở rộng thay cho số máy chủ, bạn phải xác định một giá trị trần của mạng con là: 11111111.11111111.11111111.00000000 (255.255.255.0). Như vậy, giá trị trần này chuyển địa chỉ của lớp B sang địa chỉ lớp C, nơi số máy chủ chỉ gồm bộ số thứ 4. Ký hiệu /24 thể hiện bạn đã dùng 24 bit đầu để làm tiền tố mạng mở rộng.
Ví dụ 2: Nếu bạn chỉ muốn dùng một phần của bộ số thứ 3 cho tiền tố mạng mở rộng, hãy xác định giá trị trần của địa chỉ mạng con là 11111111.11111111.11111000.00000000 (255.255.248.0), trong đó chỉ có 5 bit của bộ số thứ 3 được đưa vào tiền tố mạng mở rộng. Lúc này ta có ký hiệu /21.
Để xác định Subnet Mask dựa trên số máy chủ mình muốn, bạn có thể tham khảo bảng sau:
Số máy chủ Số bit sử dụng cho mạng mở rộng Giá trị trần
16.777.216 /8 255.0.0.0 Mạng lớp A
65.536 /16 255.255.0.0 Mạng lớp B
32.768 /17 255.255.128.0
16.384 /18 255.255.192.0
8.192 /19 255.255.224.0
4.096 /20 255.255.240.0
2.048 /21 255.255.248.0
1.024 /22 255.255.252.0
512 /23 255.255.254.0
256 /24 255.255.255.0 Mạng lớp C
128 /25 255.255.255.128
64 /26 255.255.255.192
32 /27 255.255.255.224
16 /28 255.255.255.240
8 /29 255.255.255.248
4 /30 255.255.255.252
Không sử dụng /31 255.255.255.254
1 /32 255.255.255.255 Địa chỉ máy chủ duy nhất
Chú ý: Địa chỉ đầu tiên và cuối cùng của mạng con được giữ lại, trừ /32 vì đây là địa chỉ máy chủ duy nhất.
Xác định địa chỉ để sử dụng với giá trị trần của mạng con
Địa chỉ cho lớp C
Đối với một mạng có từ 2 đến 254 máy chủ, bộ số thứ 4 sẽ được dùng đến, bắt đầu từ 0. Ví dụ, mạng con 8 máy chủ (/29) sẽ có vùng địa chỉ như sau:
Mạng con /29 (255.255.255.248) Vùng địa chỉ
192.168.0.0 192.168.0.0 - 192.168.0.7
192.168.0.8 192.168.0.8 - 192.168.0.15
192.168.0.16 192.168.0.16 - 192.168.0.31
... ...
192.168.0.248 192.168.0.248 -192.168.0.255
Chú ý: địa chỉ đầu tiên và cuối cùng của mạng con được giữ lại. Bạn không dùng được 192.168.0.0 hay 192.168.0.7.
Nói tóm lại, các vùng địa chỉ sau được chỉ định cho mạng riêng:
10.0.0.0 - 10.255.255.255 (lớp A)
172.16.0.0 - 172.31.255.255 (lớp B)
192.168.0.0 - 192.168.255.255 (lớp C)
Thiết lập và xem địa chỉ IP trên máy tính
Khi xây dựng một mạng nội bộ gồm máy chủ và máy khách, bạn sẽ phải vào hệ thống để lập địa chỉ IP. Nhấn chuột phải vào biểu tượng My network places, chọn Properties. Tiếp tục nhấp chuột phải vào biểu tượng Local Area Connection > Properties > chọn Internet Protocol (TCP/IP) > Properties. Một bảng sau hiện ra:
Bạn có thể thiết lập IP tự động hoặc bằng tay. Ảnh chụp màn hình
Muốn xem địa chỉ này, bạn vào menu Start > All Programs > Accessories > Command Prompt. Khi màn hình Dos hiện ra, gõ ngay vào vị trí con trỏ chữ "ipconfig". Cách khác: Start > Run > gõ ipconfig > OK.
Khi một thiết bị nào đó trên network riêng cần liên hệ với các mạng khác, người dùng phải đảm bảo mạng ngoài có dùng địa chỉ IP thực để các router chấp nhận kết nối. Thường thì "cánh cổng" router này chính là thiết bị dịch địa chỉ mạng (NAT - network address translation) hoặc công đoạn đó được thực hiện nhờ một máy chủ proxy.
Monday, June 25, 2007
Sunday, June 24, 2007
Dùng key không hợp lệ cho Vista sẽ bị khóa nhiều thứ
Nếu như người dùng bản Windows "lậu" trước đây chỉ cần nhập mã sản phẩm (product key) là vượt qua hàng rào kiểm soát, thì giờ đây họ sẽ vất vả hơn với Vista vì hệ điều hành này sẽ rà soát bản quyền liên tục để nhận ra hành vi "lạm dụng".
Điều này cũng có nghĩa là Microsoft sẽ yêu cầu khách hàng kích hoạt lại phần mềm nhiều hơn. Khi mã sản phẩm được nhập cho nhiều máy ở nhiều nơi khác nhau, nhờ môi trường mạng Microsoft sẽ phát hiện và "phong tỏa" ngay hệ điều hành. Ngoài ra, Windows Vista có tích hợp khả năng kiểm tra "hàng giả" ngay trong bản thân nó bằng Software Protection Program mà không cần liên hệ với Microsoft qua mạng. Trong khi đó, người dùng Windows XP "lậu" chỉ bị phát hiện khi máy tính nối Internet.
Nếu không kích hoạt, khách hàng có thể dùng trình duyệt để lướt web nhưng chỉ được 1 giờ/lần dùng máy. Họ cũng không thể truy cập vào tài liệu trên ổ cứng hay chạy Outlook Express.
Công nghệ đồ họa mới Windows Aero trong phiên bản mới cũng vô tác dụng ở Vista "lậu". Tuy nhiên, Microsoft cho biết họ không làm cho hệ điều hành bị "trục trặc" trên các máy chưa mua bản quyền Vista.
Chuyên gia phân tích Roger Kay của công ty Endpoint Technologies Associates (Mỹ) cho rằng Microsoft có quyền ngăn chặn hành vi phân phối bất hợp pháp phần mềm của họ, tuy nhiên, động thái chống hàng lậu sẽ khiến người tiêu dùng chậm trễ nâng cấp từ XP lên Vista.
Điều này cũng có nghĩa là Microsoft sẽ yêu cầu khách hàng kích hoạt lại phần mềm nhiều hơn. Khi mã sản phẩm được nhập cho nhiều máy ở nhiều nơi khác nhau, nhờ môi trường mạng Microsoft sẽ phát hiện và "phong tỏa" ngay hệ điều hành. Ngoài ra, Windows Vista có tích hợp khả năng kiểm tra "hàng giả" ngay trong bản thân nó bằng Software Protection Program mà không cần liên hệ với Microsoft qua mạng. Trong khi đó, người dùng Windows XP "lậu" chỉ bị phát hiện khi máy tính nối Internet.
Nếu không kích hoạt, khách hàng có thể dùng trình duyệt để lướt web nhưng chỉ được 1 giờ/lần dùng máy. Họ cũng không thể truy cập vào tài liệu trên ổ cứng hay chạy Outlook Express.
Công nghệ đồ họa mới Windows Aero trong phiên bản mới cũng vô tác dụng ở Vista "lậu". Tuy nhiên, Microsoft cho biết họ không làm cho hệ điều hành bị "trục trặc" trên các máy chưa mua bản quyền Vista.
Chuyên gia phân tích Roger Kay của công ty Endpoint Technologies Associates (Mỹ) cho rằng Microsoft có quyền ngăn chặn hành vi phân phối bất hợp pháp phần mềm của họ, tuy nhiên, động thái chống hàng lậu sẽ khiến người tiêu dùng chậm trễ nâng cấp từ XP lên Vista.
10 điểm chú ý trước khi dùng Windows Vista
Hệ điều hành mới của Microsoft đẹp, hấp dẫn nhưng lại khó tính, khó chiều. Người dùng nên quan tâm đến cấu hình máy, chính sách đăng ký... khi quyết định mua Windows Vista dành cho doanh nghiệp hoặc khách hàng phổ thông.
1. Yêu cầu về phần cứng
Hệ điều hành này đòi hỏi cấu hình máy tính rất mạnh để xử lý nhiều tác vụ và trình diễn đồ họa đẹp mắt. Có 2 cấp độ về cấu hình, một "Vista-capable" đưa ra những đòi hỏi tối thiểu để máy tính có thể chạy hệ điều hành, hai là "Premium Ready" thống kê các yêu cầu phần cứng để tận dụng những tính năng cao cấp như đồ họa Aero.
Vista-capable Premium Ready
Vi xử lý Tối thiểu 800 MHz Trên 1 GHz, 32 bit (x86) hoặc 64 bit (x64)
Bộ nhớ hệ thống 512 MB 1 GB
Xử lý đồ họa DirectX 9, hỗ trợ WDDM Phù hợp Windows Aero (băng rộng chip nhớ đồ họa đạt 1.800 MB/giây)
Chip đồ họa 64 MB 128 MB
Ổ cứng 20 GB 40 GB
Dung lượng trống 15 GB hơn 15 GB
Ổ quang CD-ROM DVD-ROM
Trong đó, cấu hình chip đồ họa khác nhau có thể làm những việc như sau:
- 64 MB: hỗ trợ một màn hình với độ phân giải 1.310.720 pixel trở xuống.
- 128 MB: hỗ trợ một màn hình với độ phân giải 2.304.000 pixel trở xuống.
- 256 MB: hỗ trợ một màn hình với độ phân giải 2.304.000 pixel trở lên.
- Băng thông bộ nhớ đồ họa đạt ít nhất 1.600 Mb/giây.
2. Lựa chọn phiên bản Vista thích hợp
Microsoft phát triển 5 bản với các tính năng từ ít đến nhiều, gồm: Home Basic, Home Premium dành cho môi trường gia đình, Business, Enterprise dành cho doanh nghiệp và Ultimate bao gồm mọi tính năng của cả bản gia đình lẫn doanh nghiệp, kèm chương trình Media Center.
Bản Business khá giống Windows XP Pro, Enterprise là Business thêm chức năng mã hóa BitLocker Drive Encryption dành cho laptop tại công ty và hỗ trợ đa ngôn ngữ. Tham khảo thêm tại đây.
3. Cách đăng ký Vista
Khi mua đĩa về cài đặt, khách hàng sẽ phải kích hoạt key trong vòng 30 ngày, nếu không nhiều tính năng trong hệ điều hành sẽ bị khóa (tham khảo thêm tại đây).
Người dùng có thể nâng cấp hệ điều hành từ bản thấp lên bản cao hơn khi họ đăng ký vào chương trình Windows Anytime Upgrade, ví dụ từ Home Basic lên Home Premium, từ Business lên Ultimate... Sau khi mua bản nâng cấp trên mạng và tải xuống máy, bạn chỉ cần chạy chương trình từ đĩa cài đặt gốc.
4. Khả năng tương thích ứng dụng
Khi một hệ điều hành mới ra mắt, có thể chưa xuất hiện nhiều chương trình của các hãng thứ ba hỗ trợ. Tuy nhiên, người dùng sẽ kiểm tra được sự tương thích này qua cơ chế Application Compatibility Toolkit tích hợp sẵn trong Windows Vista.
Ngoài ra, phần mềm Virtual PC/Virtual Server hay Terminal Services cho phép bạn chạy chương trình cũ trên môi trường giả lập hệ điều hành trước đây mà không gây trục trặc gì. Đây là giải pháp khi chưa có phần mềm tương ứng cho nền Vista.
5. Đánh giá cơ sở hạ tầng mạng
Dù không có yêu cầu cụ thể nào, việc nâng cấp lên Windows Vista sẽ thúc đẩy thế giới chuyển sang chuẩn 128 bit IPv6 vì hệ điều hành này hỗ trợ tốt hơn cho giao thức mạng mới. Nếu như trong XP/Server 2003, IPv6 cần cài đặt như một giao thức riêng rẽ, Vista/Longhorn Server hỗ trợ mặc định cả hai kiến trúc IPv4 và IPv6.
6. Đánh giá đối tượng cần đến Windows Vista
Một tổ chức có thể không cần nâng cấp tất cả các máy tính lên Vista ngay lập tức nhưng cũng không nên cài hệ điều hành mới một cách ngẫu nhiên. Bạn cần ước tính những bộ phận nào cần tính năng mới của Vista nhất để trang bị cho họ trước tiên. Ví dụ: đối tượng hay làm việc trên mạng và cần được bảo vệ ở mức cao thì chuyển sang Vista trước. Nhân viên sử dụng chương trình soạn thảo văn bản hay bảng tính trao đổi nội bộ có thể dùng hệ điều hành Windows XP trong một thời gian nữa.
7. Trang bị kiến thức cho người sử dụng
Nền quản lý máy tính mới đồng nghĩa với việc người dùng phải học hỏi kiến thức mới. Trong một tổ chức, không phải tất cả mọi người đều dễ thích nghi với sự thay đổi. Do đó, bạn cần tổ chức một buổi đào tạo hoặc chuẩn bị tài liệu tự học cho các nhân viên. Ví dụ: họ có thể thấy bối rối trước kiểu hộp thoại đòi hỏi quyền quản trị khi muốn thực hiện tác vụ (dù đã đăng nhập bằng tài khoản quản trị viên). Ngoài ra, người dùng khi chưa quen với desktop mới nên chuyển đổi về kiểu màn hình cũ của Windows.
8. Tuyển đội ngũ kỹ thuật viên giỏi
Nhân viên IT có chuyên môn sẽ giúp tổ chức xử lý trục trặc kỹ thuật của hệ điều hành một cách hiệu quả, nhất là khi áp lực thời gian và công việc không cho phép máy "chết" lâu.
9. Đảm bảo an toàn dữ liệu
Người dùng cần kiểm tra chương trình sao lưu dữ liệu để các thông tin, tài liệu của họ được chuyển đến nơi an toàn trước khi cài đặt hệ điều hành mới.
10. Tính toán chi phí khi chuyển sang Windows Vista
Bài toán kinh phí là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với cả doanh nghiệp và người dùng phổ thông. Chuyển sang Vista đồng nghĩa với việc thay thế hoặc nâng cấp hầu hết hệ thống (như thay chip có xung đồng hồ cao hơn, bo mạch chủ tích hợp chip đồ họa có thể bị thay thế bằng loại mainboard dùng card đồ họa cao cấp, thêm RAM, thay ổ cứng...). Ngoài ra, phí tổn cho đội ngũ kỹ thuật viên, tài liệu học tập và tất nhiên, tiền mua Windows Vista bản quyền là những khoản bạn cần lưu tâm để quyết định.
1. Yêu cầu về phần cứng
Hệ điều hành này đòi hỏi cấu hình máy tính rất mạnh để xử lý nhiều tác vụ và trình diễn đồ họa đẹp mắt. Có 2 cấp độ về cấu hình, một "Vista-capable" đưa ra những đòi hỏi tối thiểu để máy tính có thể chạy hệ điều hành, hai là "Premium Ready" thống kê các yêu cầu phần cứng để tận dụng những tính năng cao cấp như đồ họa Aero.
Vista-capable Premium Ready
Vi xử lý Tối thiểu 800 MHz Trên 1 GHz, 32 bit (x86) hoặc 64 bit (x64)
Bộ nhớ hệ thống 512 MB 1 GB
Xử lý đồ họa DirectX 9, hỗ trợ WDDM Phù hợp Windows Aero (băng rộng chip nhớ đồ họa đạt 1.800 MB/giây)
Chip đồ họa 64 MB 128 MB
Ổ cứng 20 GB 40 GB
Dung lượng trống 15 GB hơn 15 GB
Ổ quang CD-ROM DVD-ROM
Trong đó, cấu hình chip đồ họa khác nhau có thể làm những việc như sau:
- 64 MB: hỗ trợ một màn hình với độ phân giải 1.310.720 pixel trở xuống.
- 128 MB: hỗ trợ một màn hình với độ phân giải 2.304.000 pixel trở xuống.
- 256 MB: hỗ trợ một màn hình với độ phân giải 2.304.000 pixel trở lên.
- Băng thông bộ nhớ đồ họa đạt ít nhất 1.600 Mb/giây.
2. Lựa chọn phiên bản Vista thích hợp
Microsoft phát triển 5 bản với các tính năng từ ít đến nhiều, gồm: Home Basic, Home Premium dành cho môi trường gia đình, Business, Enterprise dành cho doanh nghiệp và Ultimate bao gồm mọi tính năng của cả bản gia đình lẫn doanh nghiệp, kèm chương trình Media Center.
Bản Business khá giống Windows XP Pro, Enterprise là Business thêm chức năng mã hóa BitLocker Drive Encryption dành cho laptop tại công ty và hỗ trợ đa ngôn ngữ. Tham khảo thêm tại đây.
3. Cách đăng ký Vista
Khi mua đĩa về cài đặt, khách hàng sẽ phải kích hoạt key trong vòng 30 ngày, nếu không nhiều tính năng trong hệ điều hành sẽ bị khóa (tham khảo thêm tại đây).
Người dùng có thể nâng cấp hệ điều hành từ bản thấp lên bản cao hơn khi họ đăng ký vào chương trình Windows Anytime Upgrade, ví dụ từ Home Basic lên Home Premium, từ Business lên Ultimate... Sau khi mua bản nâng cấp trên mạng và tải xuống máy, bạn chỉ cần chạy chương trình từ đĩa cài đặt gốc.
4. Khả năng tương thích ứng dụng
Khi một hệ điều hành mới ra mắt, có thể chưa xuất hiện nhiều chương trình của các hãng thứ ba hỗ trợ. Tuy nhiên, người dùng sẽ kiểm tra được sự tương thích này qua cơ chế Application Compatibility Toolkit tích hợp sẵn trong Windows Vista.
Ngoài ra, phần mềm Virtual PC/Virtual Server hay Terminal Services cho phép bạn chạy chương trình cũ trên môi trường giả lập hệ điều hành trước đây mà không gây trục trặc gì. Đây là giải pháp khi chưa có phần mềm tương ứng cho nền Vista.
5. Đánh giá cơ sở hạ tầng mạng
Dù không có yêu cầu cụ thể nào, việc nâng cấp lên Windows Vista sẽ thúc đẩy thế giới chuyển sang chuẩn 128 bit IPv6 vì hệ điều hành này hỗ trợ tốt hơn cho giao thức mạng mới. Nếu như trong XP/Server 2003, IPv6 cần cài đặt như một giao thức riêng rẽ, Vista/Longhorn Server hỗ trợ mặc định cả hai kiến trúc IPv4 và IPv6.
6. Đánh giá đối tượng cần đến Windows Vista
Một tổ chức có thể không cần nâng cấp tất cả các máy tính lên Vista ngay lập tức nhưng cũng không nên cài hệ điều hành mới một cách ngẫu nhiên. Bạn cần ước tính những bộ phận nào cần tính năng mới của Vista nhất để trang bị cho họ trước tiên. Ví dụ: đối tượng hay làm việc trên mạng và cần được bảo vệ ở mức cao thì chuyển sang Vista trước. Nhân viên sử dụng chương trình soạn thảo văn bản hay bảng tính trao đổi nội bộ có thể dùng hệ điều hành Windows XP trong một thời gian nữa.
7. Trang bị kiến thức cho người sử dụng
Nền quản lý máy tính mới đồng nghĩa với việc người dùng phải học hỏi kiến thức mới. Trong một tổ chức, không phải tất cả mọi người đều dễ thích nghi với sự thay đổi. Do đó, bạn cần tổ chức một buổi đào tạo hoặc chuẩn bị tài liệu tự học cho các nhân viên. Ví dụ: họ có thể thấy bối rối trước kiểu hộp thoại đòi hỏi quyền quản trị khi muốn thực hiện tác vụ (dù đã đăng nhập bằng tài khoản quản trị viên). Ngoài ra, người dùng khi chưa quen với desktop mới nên chuyển đổi về kiểu màn hình cũ của Windows.
8. Tuyển đội ngũ kỹ thuật viên giỏi
Nhân viên IT có chuyên môn sẽ giúp tổ chức xử lý trục trặc kỹ thuật của hệ điều hành một cách hiệu quả, nhất là khi áp lực thời gian và công việc không cho phép máy "chết" lâu.
9. Đảm bảo an toàn dữ liệu
Người dùng cần kiểm tra chương trình sao lưu dữ liệu để các thông tin, tài liệu của họ được chuyển đến nơi an toàn trước khi cài đặt hệ điều hành mới.
10. Tính toán chi phí khi chuyển sang Windows Vista
Bài toán kinh phí là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với cả doanh nghiệp và người dùng phổ thông. Chuyển sang Vista đồng nghĩa với việc thay thế hoặc nâng cấp hầu hết hệ thống (như thay chip có xung đồng hồ cao hơn, bo mạch chủ tích hợp chip đồ họa có thể bị thay thế bằng loại mainboard dùng card đồ họa cao cấp, thêm RAM, thay ổ cứng...). Ngoài ra, phí tổn cho đội ngũ kỹ thuật viên, tài liệu học tập và tất nhiên, tiền mua Windows Vista bản quyền là những khoản bạn cần lưu tâm để quyết định.
10 điều khó chịu nhất khi dùng Windows Vista
Hệ điều hành mới đồng nghĩa với cách dùng và những khó khăn khác biệt so với phiên bản trước. Người sử dụng sẽ vướng phải các phiền toái về kỹ thuật hay vấn đề tài chính.
1. Khó khăn với tập tin khởi động
Trong Windows XP, việc tùy biến thực đơn khởi động khá đơn giản. Ví dụ: nếu chạy nhiều hệ điều hành trên một máy tính, người dùng chỉ cần mở tập tin boot.ini và thay đổi nó như thay tên của hệ điều hành đã cài bằng cái tên khác dễ nhớ hơn.
10 điểm chú ý trước khi dùng Windows Vista
Ở Windows Vista, quá trình này phức tạp hơn vì phải làm việc với tập tin mới là Bcedit. File này rất khó dùng, ngay cả đối với người dày dạn kinh nghiệm. Chỉ cần nhìn qua chương trình này, có thể nhiều người sẽ thấy "oải".
2. Mục cài đặt màn hình "lôi" mãi mới ra
Thông thường bạn có thể nhấn chuột phải trên màn hình desktop và chọn Properties là sẽ thấy cửa sổ Display. Nhưng với Windows Vista, khi nhấn chuột phải, bạn sẽ chọn Personalise để vào cửa sổ Appearance and Personalisation rồi di chuột đến tận cuối cùng mới thấy được nó.
3. Control Panel rắc rối
Mục này trong Vista được chia thành từng "cụm" và rất khó "tìm đường". Bạn sẽ tốn nhiều cú nhấn chuột hơn để đến đích. Do đó, người dùng có thể chọn giải pháp trở lại kiểu XP quen thuộc bằng cách chọn Classic View.
4. Lựa chọn Shutdown cũng phức tạp hơn
Trong khi XP chỉ có 4 lựa chọn: Tắt máy - Khởi động lại - Chờ - Thoát tài khoản đăng nhập hiện thời, Vista có đến 9. Cách dùng từ khác của hệ điều hành này sẽ gây khó khăn cho người dùng phổ thông, ví dụ như Hibernate, Sleep...
5. Thiếu hỗ trợ ứng dụng
Người dùng Vista gặp khó khăn khi gõ tiếng Việt
Điểm khó chịu nhất khi dùng Vista là chưa có đầy đủ các ứng dụng chạy cho nền mới này. Những phần mềm xử lý font chữ hay đồ họa, diệt virus... mà bạn quen dùng có thể mất một thời gian nữa để tương thích.
6. Vista luôn "xin phép" quyền quản trị
Chức năng quản lý tài khoản người sử dụng UAC sẽ bật lên một cửa sổ xin phép mỗi khi bạn thực hiện một tác vụ nào đó. Tất nhiên, mục tiêu của UAC là tốt vì nó tránh các sửa đổi trái phép máy tính từ xa, các cửa sổ dạng pop-up như vậy là phiền toái ở góc độ người dùng. Để loại bỏ, bạn có thể tắt chức năng này ở mục User Accounts And Family Safety trong Control Panel.
7. Các tác vụ mất nhiều thời gian để thực hiện
Nếu một công việc ở Windows XP được thực hiện sau 1 bước thì ở Vista sẽ bị đẩy lên 4-5 bước. Quy trình làm việc dài dòng này không đi theo tiêu chí đơn giản hóa cho người sử dụng.
8. Cửa sổ Aero chỉ chiều "con nhà giàu"
Những tấm cửa sổ trong veo có thể xếp chéo thành lớp trên desktop là ấn tượng mạnh nhất ở Vista. Tuy nhiên, người dùng máy có cấu hình chưa đủ mạnh chỉ còn cách hậm hực đứng nhìn máy khác hoặc phải bỏ tiền nâng cấp.
Để dùng Aero Glass, máy tính phải có card video 3D hỗ trợ trình điều khiển giao diện đồ họa DirectX9 và có trình điều khiển Longhorn Display Driver Model. Chú ý: cửa sổ Aero chỉ xuất hiện ở bản Home Premium trở lên và không có ở Home Basic.
9. Quá nhiều bản Vista
Khách hàng đều thấy lúng túng khi lựa chọn bản nào để phù hợp với cấu hình máy, túi tiền và nhu cầu. 5 bản Vista bao gồm Home Basic, Home Premium, Business, Enterprise và Ultimate có sự khác biệt về tính năng, yêu cầu phần cứng và giá cả.
10. Giá cả
Bạn có thể mua Vista với giá 100 USD (giá này khác nhau ở từng nước) nhưng chỉ là bản Home Basic. Các tính năng của nó ít đến nỗi rất ít người muốn dùng bản này. Tuy nhiên, các bản khác đều có giá "ngất trời". Ví dụ, tại Việt Nam, Home Premium là 282 USD, Business là 351 USD và Ultimate giá 470 USD.
1. Khó khăn với tập tin khởi động
Trong Windows XP, việc tùy biến thực đơn khởi động khá đơn giản. Ví dụ: nếu chạy nhiều hệ điều hành trên một máy tính, người dùng chỉ cần mở tập tin boot.ini và thay đổi nó như thay tên của hệ điều hành đã cài bằng cái tên khác dễ nhớ hơn.
10 điểm chú ý trước khi dùng Windows Vista
Ở Windows Vista, quá trình này phức tạp hơn vì phải làm việc với tập tin mới là Bcedit. File này rất khó dùng, ngay cả đối với người dày dạn kinh nghiệm. Chỉ cần nhìn qua chương trình này, có thể nhiều người sẽ thấy "oải".
2. Mục cài đặt màn hình "lôi" mãi mới ra
Thông thường bạn có thể nhấn chuột phải trên màn hình desktop và chọn Properties là sẽ thấy cửa sổ Display. Nhưng với Windows Vista, khi nhấn chuột phải, bạn sẽ chọn Personalise để vào cửa sổ Appearance and Personalisation rồi di chuột đến tận cuối cùng mới thấy được nó.
3. Control Panel rắc rối
Mục này trong Vista được chia thành từng "cụm" và rất khó "tìm đường". Bạn sẽ tốn nhiều cú nhấn chuột hơn để đến đích. Do đó, người dùng có thể chọn giải pháp trở lại kiểu XP quen thuộc bằng cách chọn Classic View.
4. Lựa chọn Shutdown cũng phức tạp hơn
Trong khi XP chỉ có 4 lựa chọn: Tắt máy - Khởi động lại - Chờ - Thoát tài khoản đăng nhập hiện thời, Vista có đến 9. Cách dùng từ khác của hệ điều hành này sẽ gây khó khăn cho người dùng phổ thông, ví dụ như Hibernate, Sleep...
5. Thiếu hỗ trợ ứng dụng
Người dùng Vista gặp khó khăn khi gõ tiếng Việt
Điểm khó chịu nhất khi dùng Vista là chưa có đầy đủ các ứng dụng chạy cho nền mới này. Những phần mềm xử lý font chữ hay đồ họa, diệt virus... mà bạn quen dùng có thể mất một thời gian nữa để tương thích.
6. Vista luôn "xin phép" quyền quản trị
Chức năng quản lý tài khoản người sử dụng UAC sẽ bật lên một cửa sổ xin phép mỗi khi bạn thực hiện một tác vụ nào đó. Tất nhiên, mục tiêu của UAC là tốt vì nó tránh các sửa đổi trái phép máy tính từ xa, các cửa sổ dạng pop-up như vậy là phiền toái ở góc độ người dùng. Để loại bỏ, bạn có thể tắt chức năng này ở mục User Accounts And Family Safety trong Control Panel.
7. Các tác vụ mất nhiều thời gian để thực hiện
Nếu một công việc ở Windows XP được thực hiện sau 1 bước thì ở Vista sẽ bị đẩy lên 4-5 bước. Quy trình làm việc dài dòng này không đi theo tiêu chí đơn giản hóa cho người sử dụng.
8. Cửa sổ Aero chỉ chiều "con nhà giàu"
Những tấm cửa sổ trong veo có thể xếp chéo thành lớp trên desktop là ấn tượng mạnh nhất ở Vista. Tuy nhiên, người dùng máy có cấu hình chưa đủ mạnh chỉ còn cách hậm hực đứng nhìn máy khác hoặc phải bỏ tiền nâng cấp.
Để dùng Aero Glass, máy tính phải có card video 3D hỗ trợ trình điều khiển giao diện đồ họa DirectX9 và có trình điều khiển Longhorn Display Driver Model. Chú ý: cửa sổ Aero chỉ xuất hiện ở bản Home Premium trở lên và không có ở Home Basic.
9. Quá nhiều bản Vista
Khách hàng đều thấy lúng túng khi lựa chọn bản nào để phù hợp với cấu hình máy, túi tiền và nhu cầu. 5 bản Vista bao gồm Home Basic, Home Premium, Business, Enterprise và Ultimate có sự khác biệt về tính năng, yêu cầu phần cứng và giá cả.
10. Giá cả
Bạn có thể mua Vista với giá 100 USD (giá này khác nhau ở từng nước) nhưng chỉ là bản Home Basic. Các tính năng của nó ít đến nỗi rất ít người muốn dùng bản này. Tuy nhiên, các bản khác đều có giá "ngất trời". Ví dụ, tại Việt Nam, Home Premium là 282 USD, Business là 351 USD và Ultimate giá 470 USD.
Wednesday, June 13, 2007
Hủy lệnh in ngay lập tức
Khi đang in một vài trong số hằng trăm trang giấy, bạn nhận thấy có sự cố và muốn dừng lệnh in ngay lập tức. Cách duy nhất lúc này bạn có thể nghĩ tới là bấm nút tắt máy in trong khi nó đang hoạt động. Điều này sẽ làm giảm tuổi thọ máy in rất nhiều.
Nếu bạn áp dụng thủ thuật nhỏ sau đây, bạn có thể ngừng ngay hoạt động của máy in một cách an toàn và hiệu quả.
Đầu tiên, bạn hãy vào menu Start > Run rồi gõ lệnh CMD, nhấn Enter. Trong dấu nhắc tại cửa sổ CMD này, bạn hãy nhập vào dòng lệnh net stop spooler, nhấn Enter. Sau đó, chờ trong giây lát để Windows nhận lệnh mà tạm huỷ các máy in cũng như các lệnh in có trong bộ nhớ của hệ thống.
Lúc này, bạn hãy nhập vào dòng lệnh net start spooler rồi nhấn Enter để Windows khôi phục lại các máy in có trong hệ thống của bạn. Lệnh in đã bị huỷ bỏ an toàn. Cuối cùng, bạn nhập dòng lệnh Exit để thoát khỏi cửa sổ CMD.
Nếu bạn áp dụng thủ thuật nhỏ sau đây, bạn có thể ngừng ngay hoạt động của máy in một cách an toàn và hiệu quả.
Đầu tiên, bạn hãy vào menu Start > Run rồi gõ lệnh CMD, nhấn Enter. Trong dấu nhắc tại cửa sổ CMD này, bạn hãy nhập vào dòng lệnh net stop spooler, nhấn Enter. Sau đó, chờ trong giây lát để Windows nhận lệnh mà tạm huỷ các máy in cũng như các lệnh in có trong bộ nhớ của hệ thống.
Lúc này, bạn hãy nhập vào dòng lệnh net start spooler rồi nhấn Enter để Windows khôi phục lại các máy in có trong hệ thống của bạn. Lệnh in đã bị huỷ bỏ an toàn. Cuối cùng, bạn nhập dòng lệnh Exit để thoát khỏi cửa sổ CMD.
Subscribe to:
Comments (Atom)